Rèn luyện kỹ năng giải một số dạng toán định lượng Hóa học 9

Tháng Ba 14, 2018 8:45 sáng

1.Phần mở đầu.

1.1 Lí do chọn đề tài.

Hoá học là bộ môn khoa học thực nghiệm, có tầm quan trọng trong trường phổ thông và trong thực tiễn đời sống con người.. Tuy nhiên đây lại là một môn học mà học sinh được tiếp cận muộn  so với các môn  khoa học tự nhiên khác như: Toán, Lí … Vì vậy kinh nghiệm bộ môn, kỹ năng giải các dạng bài tập đối với học sinh lớp 9 nói riêng và với học sinh THCS nói chung còn lúng túng, khó giải được các dạng bài tập ở lớp 9 từ đó khó hơn khi học lên THPT.

Với bộ môn Hóa học có hai dạng bài tập cơ bản là bài tập định tính như nhận biết các hóa chất dạng dung dịch, rắn, khí hay là lập phương trình, viết chuổi phản ứng hóa học… Dạng thứ hai là làm các bài tập định lượng như tính khối lượng, thể tích chất tham gia, chất tạo thành, lập công thức hóa học…

Đối với dạng bài tập định lượng này ngoài phải nắm được tính chất hóa học của chất thì phải nắm được các công thức, kỹ năng tính toán đặc biệt là kỹ năng, phướng pháp giải các dạng toán định lượng Hóa học.

Với đặc thù như vậy thì Hóa học là một môn học mà đa số học sinh ở  cấp trung học cơ sở nói chung và học sinh lớp 9 nói riêng đều cho là môn học khó, nhàm chán thậm chí là cảm giác sợ học của một số học sinh nhất là đối với học sinh yếu.

Trong chương trình Hóa học lớp 9, tiết luyện tập chỉ có sau mỗi chương hoặc là sau khi nghiên cứu về tính chất của một chất. Trong tiết dạy chỉ có 45 phút, thời gian để rèn luyện cho các em kỹ năng giải các bài tập toán định lượng Hóa học không được nhiều nên nhìn chung  học sinh đa số yếu và thậm chí không tự tin trong học tập bộ môn này.

Trường THCS là một trường thuộc vùng miền đặc biệt khó khăn, dân cư làm nghề thủ công Mây – Đan nên hầu như toàn bộ thời gian ở nhà các em dùng để đan Mây, đan Nón và ít có thời gian học nên kỹ năng bộ môn càng yếu.

Rèn luyện kỹ năng  giải 1 số  dạng  bài tập định lượng Hóa học  9 là một biện pháp rất quan trọng để cũng cố và nắm vững các định luật, các khái niệm và tính chất hóa học của các chất. Nhưng thực tế ở các trường, thời gian giải bài tập trên lớp của các em rất ít, bản thân học sinh chưa nắm vững cách giải và hệ thống hóa được các dạng bài tập, vì thế các em không thể tự học ở nhà nhất là các học sinh lớp 9. Kết quả là học sinh ít làm bài tập, chỉ học những lí thuyết suông, không đáp ứng được yêu cầu do môn Hóa học đề ra, từ từ các em cảm thấy sợ học môn Hóa. Là giáo viên dạy Hóa 8-9, tôi luôn băn khoăn, trăn trở nhiều về vấn đề này.

Từ những thực trạng nêu trên, tôi thiết nghĩ cần phải có một bộ tài liệu hệ thống hóa kỹ năng giải một số dạng bài tập định lượng, cơ bản ở bậc THCS nói chung và lớp 9 nói riêng nhằm giúp các em có thể tự học, tự giải bài tập ở nhà, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng học tập môn Hóa của học sinh.

Trong đề tài của mình tôi sẻ nghiên cứu “Rèn luyện kỹ năng  giải một số dạng toán định lượng Hóa học 9” cho học sinh lớp 9 trường THCS  nhằm có cái nhìn rõ nét về thực tế của vấn đề này, giúp tìm ra nguyên nhân của những khó khăn mà học sinh gặp phải trong quá trình học tâp. Đồng thời, đề tài  đưa ra một số giải pháp để  góp phần nâng cao kỹ năng giải một số dạng toán  định lượng Hóa học cho học sinh lớp 9.

Trong phạm vi đề tài này đồng nghiệp chưa có ai nhiên cứu, mặt khác trong quá trình giảng dạy tại trường, thực tế  kỹ năng  giải một số dạng  toán  định lượng hóa học cúa học sinh lớp 9 nói riêng và của toàn học sinh nói chung còn yếu nên tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài này để nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn của mình tại trường sở tại.

1.2. Phạm vi áp dụng cho đề tài.

          Đề tài này áp dụng cho học sinh lớp 9 nói chung và học sinh THCS nói riêng và được áp dụng cụ thể tại cấp THCS và cũng  có thể  là tài liệu tham khảo cho đồng nghiệp dạy và học sinh học bộ môn Hóa học tại địa phương.

  1. Phần nội dung.

2.1.Thực trạng của nội dung cần nghiên cứu.

Học sinh của trường THCS đa số là học sinh con em  nhà nông, làm rẫy, làm nghề mây tre đan, nón lá… kinh tế gia đình khó khăn do đó ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình học tập của học sinh. Thực tế học sinh chất lượng đại trà  thấp, kỹ năng giải toán bộ môn kém. Đặc biệt ở khối 9 các em muốn học nhưng không biết bắt đầu từ đâu vì một số em đã bị mất gốc, thiếu phương pháp học tập, thiếu kỹ  năng giải các dạng toán bộ môn. Nhiều em không có hứng thú học tập, thấy sợ khi đến tiết học Hóa học nhất là khi tiếp xúc với công thức, phương trình, các bài tập giải .Vì vậy  nhiều em trên lớp không tham gia vào hoạt động học vì không hiểu. Các em chỉ đơn thuần ngồi chờ kết quả từ các bạn giỏi hơn hoặc từ phía thầy cô…Dù đã được học Hóa học từ năm lớp 8 và đầu năm lớp 9  nhưng kỷ năng giải toán định lượng  hóa học của học sinh còn yếu, mỗi khi lên lớp tôi luôn gặp những ánh mắt lo âu.  Giờ học rất trầm…Trong một lớp chỉ có vài học sinh hoạt động tích cực trong các tiết học còn lại thì ngồi  im, làm cho không khí lớp học  rất buồn tẻ, thiếu sinh khí , quá chênh lệch. Đây là một vấn đề làm tôi  suy nghĩ,trăn trở  tìm giải pháp để khắc phục.

Như chúng ta đã biết, Hóa học là một môn khoa học thực nghiệm, mới mẻ  và  tương đối khó đối với học sinh. Đặc biệt  là đối với học sinh nông thôn, học sinh thuộc vùng khó khăn. Vì vậy vấn đề  “Rèn luyện kỹ năng  giải một số dạng  toán  định lượng hóa học 9” cho học sinh luôn là câu hỏi thường xuyên mà tôi trăn trở  muốn tìm ra câu trả lời để khắc phục được thực trạng trên.

Là giáo viên trực tiếp giảng dạy, tôi phải quyết tâm tìm ra giải pháp là làm sao cho các em thấy những điều lý thú trong học Hóa học, khơi dậy sự ham hiểu biết ở học sinh có thể giúp tất cả các đối tượng học đều có kỹ giải toán Hóa học… Qua nhiều năm học hỏi, tham khảo tài liệu và những kinh nghiệm được rút ra  thông qua các giờ dạy thực tế ở trên lớp, bản thân  tôi đã tìm ra được phương pháp dạy phù hợp, thu hút được phần lớn học sinh tham gia  bài học một cách chủ động, sáng tạo nhất là trong các tiết dạy luyện tập, ôn tập có sử dụng kỹ năng giải  các dạng bài tập toán Hóa học.

  Tình hình khảo sát  chất lượng đầu năm năm học 2017 – 2018  khi chưa áp dụng  các giải pháp này ở  lớp 9 trường THCS  như sau:

 

 

* Nguyên nhân:

Qua quá trình giảng  dạy và tìm hiểu học sinh khối 9 tôi đã tìm ra một số nguyên nhân dẫn đến kỹ năng giải các dạng bài tập định lượng Hóa học  ở học sinh còn thấp đó là:

  Về học sinh :

Hóa học là một môn khoa học thực nghiệm đòi hỏi học sinh vừa phải nắm được lý thuyết, vừa phải có kỷ năng thực hành, mặt khác các dạng bài tập lại rất rộng và khó.

Muốn giải được các dạng bài tập định lượng trong chương trình hóa học lớp 9 thành công thì đòi hỏi học sinh phải nắm chắc tính chất hóa học của các chất,có lòng hăng say, yêu thích bộ môn và phải có phương pháp giải các dạng toán…Với môn học như vậy nhưng các em chỉ mới được tiếp cận bắt đầu từ năm lớp 8, bên cạnh đó cách học thụ động, đọc thuộc lý thuyết, thiếu tính thực hành, thiếu rèn luyện, kỹ năng giải các bài tập cụ thể… do đó hạn chế không nhỏ đến chất lượng học tập bộ môn của các em . Là  một bộ môn đòi hỏi học sinh phải chăm chỉ, thường xuyên học bài, thường xuyên luyện tập nhưng các em chưa dành nhiều thời gian cho học tập do điều kiện gia đình khó khăn. Một số học sinh còn lười học hoặc ỷ lại còn khá lớn.Tinh thần tự học chưa cao, thiếu phương pháp học tập. Có học sinh không học bài cũng như không soạn bài mới trước khi đến lớp  thậm chí có em không biết bài học này nói về vấn đề gì? Một số khác thì ham chơi, các em không tha thiết với việc học của mình.

Học sinh nông thôn còn nhút nhát, tự ti thấy bài tập khó thì nhụt chí không chịu học hỏi bạn, thầy để giải quyết nên dần dần kỹ năng giảỉ toán nhất là các dạng toán định lượng hóa học bị mai một, dần mất gốc.

Về giáo viên : 

Bản thân tôi qua quá trình dự kiến  tập ở một số tiết, tôi thấy giáo viên vẫn có  nhiều thiếu sót trong việc lên lớp. Trong các tiết dạy giáo viên còn tập trung thời gian để truyền tải lí thuyết bài học như về tính chất hóa học của chất, thời gian để rèn luyện cho học sinh kỹ năng giải toán chưa nhiều nhất là phần cũng cố bài học hay là phần kiểm tra bài củ nên học sinh đa số yếu  trong khâu này. Bên cạnh đó vì các bài tập định lượng liên quan đến nhiều kỹ năng tính toán khó, mất nhiều thời gian nên giáo viên còn chưa quan tâm thích đáng đến các đối tượng yếu-kém vì sợ không hết bài, chỉ chú trọng đến các đối tượng khá -giỏi và chỉ rèn luyện cho nhóm đối tượng này.Việc hướng dẫn học sinh học ở nhà của giáo viên chưa thực sự chú trọng nên dẫn đến tình trạng học sinh không biết cách làm.

 Về  nhà trường

Việc đẩy mạnh phương pháp dạy học mới nhằm tạo ra thế hệ học sinh vừa giỏi về lý thuyết, vừa giỏi về thực hành của bộ môn Hóa học ở trường sở tại còn gặp nhiều khó khăn do cơ sở vật chất. Tại trường THCS, bộ môn Hóa học vẫn chưa được đưa vào dạy bổ trợ kiến thức trái buổi như đối với các bộ môn Toán, văn nên thời gian rèn luyện kỹ năng giải các dạng  toán định lượng hóa học cho học sinh vẫn chưa được thích đáng.

2.2. Các giải pháp.

Từ thực tế  kết quả khảo sát và vốn kĩ năng giải các dạng bài tập định lượng của học sinh lớp 9 trường tôi đang trực tiếp giảng dạy rất thấp nên  tôi đã suy nghĩ, trăn trở  và tìm  nhiều  giải pháp để nâng cao chất lượng bộ môn cũng như rèn luyện cho các em có được kĩ năng giải các bài tập định lượng trong chương trình THCS đáp ứng chuẩn kiến thức, kĩ năng . Trong nhiều giải pháp đó tôi tâm đắc nhất và quyết định sử dụng đó là hệ thống và hướng dẫn giãi các dạng  bài tập định lượng cơ bản nhất trong chương trình  THCS  để giúp học sinh lớp 9 có kĩ năng giãi các dạng bài tập định lượng đáp ứng nhu cầu bộ môn và tôi mạnh dạn trình bày kinh nghiệm thực tế của mình trước các đồng nghiệp để được trao đổi, học tập, góp ý nhằm không ngừng nâng cao tay nghề với  mục đích cuối cùng là  làm sao cho học sinh dể hiểu, say mê  hơn nữa đối với bộ môn Hóa học nhằm từng bước nâng cao chất lượng dạy và học.

     Sau khi nghiên cứu kỹ các dạng toán định lượng trong chương trình, sách giáo khoa  Hóa học 9 tôi đưa ra  một số dạng toán như  sau để giúp học sinh lớp 9 trường sở tại nghiên cứu, học tập, rèn luyện và  các đồng nghiệp tham khảo:

Dạng 1: Toán tính theo phương trình hóa học tìm chất tham gia hoặc  chất tạo thành.

Dạng 2: Toán tính theo phương trình hóa học khi biết 2 chất phản ứng.

Dạng 3: Toán xác định công thức của hợp chất vô cơ.

Dạng 4: Toán xác định thành phần hỗn hợp.

Dạng 5: Toán về CO2 tác dụng với dung dịch kiềm.

Để làm được các dạng bài tập trên thì học sinh  phải hệ thống lại và bắt buộc nắm vững các nội dung lí thuyết sau để phục vụ việc giải toán:

* Nắm vững tính chất của các chất trong chương trình hóa học 8, 9 và viết được phương trình phản ứng.

* Nắm được hệ thống công thức, định luật sau trong chương trình hóa học 8,9 như:

– Tìm số mol chất.

+ Dựa và khối lượng chất.

Trong đó:  · m: khối lượng chất (g)· M: khối lượng mol (g)

           +  Dựa vào thể tích chất khí đo ở điều kiện tiêu chuẩn (đktc)

Trong đó: · V: thể tích chất khí đo ở đktc (lít)

          +  Dựa vào nồng độ mol dung dịch.

n = CM.V Trong đó: · CM: nồng độ mol dung dịch (mol/lít)· V: thể tích dung dịch (lít)

 – Công thức tính nồng độ phần trăm (C%).

mct: khối lượng chất tan (g)

mdd: khối lượng dung dịch (g)

mdd = mct + mdm

-Khi cho khối lượng riêng dung dịch D(g/ml)

mdd = D.V

-Khi trộn nhiều chất lại với nhau

mdd =  mtổng các chất phản ứng – mchất không tan – mchất khí

–  Tỉ khối của chất khí.

Trong đó: · MA: khối lượng mol của khí A.· MB: khối lượng mol của khí B.

*Chú ý: Nếu B là không khí thì MB = 29

–  Định luật bảo toàn khối lượng.

Định luật: Trong một phản ứng hóa học tồng khối lượng các chất phản ứng bằng tổng khối lượng các chất sản phẩm.

Phản ứng hóa học:              A + B ® C + D

Ta có:  mA + mB = mC + mD

– Ngoài ra việc giải bài toán hóa học đòi hỏi học sinh phải biết cách giải phương trình bậc nhất một ẩn số, giải hệ phương trình bậc nhất hai ẩn số, …

Sau đây là phương pháp giải và một số ví dụ cụ thể minh chứng cho các dạng toán định lượng hóa học như đã nêu trên nhằm rèn luyện cho học sinh lớp 9 có  kỹ năng giải  toán tốt hơn.

Dạng 1: Dạng toán tính theo phương trình hóa học để  tìm chất tham gia hoặc  chất tạo thành.

* Phương pháp:

– Chuyển đổi  các đại lượng bài toán cho như khối lượng (m), thể tích chất khí (V) về số mol(n)

– Viết phương trình hóa học cho phản ứng và cân bằng phương trình.

– Đặt tỉ lệ số mol chất tham gia và chất tạo thành theo phương trình

– Từ phương trình suy ra số mol chất cần tìm từ số mol chất đã cho.

– Tính khối lượng hoặc thể tích chất khí đề bài yêu cầu theo công thức:

m = n*M (gam) hoặc V(đktc) = n* 22,4(lít).

Ví dụ: Cho 5,6 gam sắt tác dụng với vừa đủ với khí oxi ở nhiệt độ cao tạo thành oxit sắt từ.

a/ Tính khối lượng  oxit sắt từ tạo thành?

b/ Tính thể tích khí oxi ở điều kiện tiêu chuẩn đã tham gia phản ứng.?

Hướng dẫn giải

Số mol Fe  = 5,6/ 56 = 0,1 (mol)

Phương trình:   3Fe      +   2 O2       t0       Fe3O4

0,1 mol        0,07mol           0,03 mol

a/ Từ phương trình ta có số mol  Fe3O4  = 0,03 ( mol)

Khối lượng  Fe3O4  = 0,03*  232=  6,96  ( gam)

b/ Thể tích khí oxi( đktc) = 0,07 * 22,4 = 1,57 ( lít)

Dạng 2: Tính theo phương trình hóa học khi biết 2 chất phản ứng( dạng toán dư).

* Phương pháp:

– Chuyển đổi các lượng chất đã cho ra số mol.

– Viết phương trình hóa học:    A  +  B  ® C  +  D

– Lập tỉ số: Số mol chất A (theo đề bài) Số mol chất B (theo đề bài)
Hệ số chất A (theo phương trình) Hệ số chất B(theo phương trình)

So sánh hai tỉ số này, số nào lớn hơn thì chất đó dư, chất kia phản ứng hết. Tính toán (theo yêu cầu của đề bài) theo chất phản ứng hết.

Ví  dụ : Hoà tan 2,4 g CuO trong 200 gam dung dịch HNO3 15,75%. Tính nồng độ phần trăm các chất có trong dung dịch sau khi phản ứng kết thúc.

Hướng dẫn giải

nCuO = 2,4 : 80 = 0,03 (mol)

mHNO3 =  = 31,5 (g)

Þ nHNO3 = 31,5 : 63 = 0,5 (mol)

PTHH:           CuO         +       2HNO3   Cu(NO3)          + H2O

mol ban đầu:   0,03                  0,5

mol phản ứng  0,03        ®         0,06        ®       0,03

Lập tỉ số: Þ  <  Þ HNO3 dư, CuO­ hết ta tính theo CuO.

Các chất sau khi phản ứng kết thúc gồm: Cu(NO3)2 và HNO3 còn dư

mCu(NO)2 = 0,03 . 188 = 5,64(g)    mHNO3dư = (0,5- 0,06).63 = 27,72(g)

mdd sau phản ứng = mCuO  + mdd HNO3 = 2,4 + 200 = 202,4(g)

C% ddCu(NO3)2 =  = 2,78%

C% ddHNO3 dư =  = 13,7%

Dạng 3: Xác định công thức của hợp chất vô cơ.

    Đối với dạng toán này khi giải học sinh gặp nhiều trừng hợp khác nhau, chúng ta sẽ xét các trường hợp cụ thể sau:

     *Lập CTHH của oxit sắt.

   Phương pháp:

– Đặt công thức của oxit sắt là FexOy

– Dựa vào dữ kiện của đề bài ta đưa về tỉ số  . Thí dụ :  =  Þ Fe2O3, …

– Khi giải toán ta cần phải chú ý sắt chỉ có 3 oxit sau: FeO, Fe2O3, Fe3O4.

Thí dụ 1: Một oxit sắt có thành phần phần trăm về khối lượng sắt trong oxit là 70%. Tìm công thức của oxit sắt.

            Hướng dẫn giải

Đặt công thức của oxit sắt là FexOy

%Fe = =  = 0,7

Û 16,8x = 11,2y Þ   = =  Þ x = 2, y = 3

Công thức của oxit sắt là Fe2O3.

Thí dụ 2: Xác định công thức của hai oxit sắt A. Biết rằng 23,2 gam A tan tan vừa đủ trong 0,8 lít HCl 1M.

Hướng dẫn giải

nHCl = 1.0,8 = 0,8 (mol)

Đặt công thức của oxit sắt là FexOy

PTHH:                  FexOy + 2yHCl  ®  xFeCl2y/x  +  yH2O

mol:     ¬   0,8

MFexOy = 56x + 16y =   = 58y

Û 56x = 42y Þ   = =  Þ x = 3, y = 4

Công thức của oxit sắt là Fe2O3.

* Lập CTHH dựa vào phương trình hóa học (PTHH).

                Phương pháp:

– Phân tích đề chính xác và khoa học.

– Quy đổi các dữ kiện ra số mol (nếu được)

– Viết phương trình hóa học

– Dựa vào lượng của các chất đã cho tính theo PTHH. Tìm M nguyên tố.

Thí dụ : Cho 2,4 gam kim loại R hoá trị II tác dụng với dung dịch H2SO4 loãng dư thấy giải phóng 2,24lít H2 (đktc). Hãy xác định kim loại M.

                       Hướng dẫn giải

nH2  = 2,24 : 22,4 = 0,1mol

 

PTHH:        R  +   H2SO4  ®  RSO4   +  H2

mol:   0,1              ¬                  0,1

MR =  =  = 24 g. Vậy R là kim loại Magie (Mg).

Dạng 4: Bài toán xác định thành phần hỗn hợp.

                           *Phương pháp

– Qui đổi các dữ kiện về số mol.

– Phân tích đề bài một cách khoa học xem trong hỗn hợp chất nào phản ứng, chất nào không phản ứng hay cả hỗn hợp đều tham gia phản ứng.

– Đặt ẩn số cho các chất phản ứng (thường là số mol) và viết các PTHH.

– Dựa vào PTHH và dữ kiện đề bài để lập hệ phương trình (nếu cần thiết).

– Tính thành phần của hỗn hợp theo công thức:

%Atrong hỗn hợp = .100%

Thí dụ 1: Cho 10,5g hỗn hợp 2 kim loại Cu, Zn vào dung dịch H2SO4 loãng dư, người ta thu được 2,24 lít khí (đktc). Tính thành phần % về lượng các chất trong hỗn hợp kim loại.

Hướng dẫn giải

nH2 = 2,24 : 22,4 = 0,1 (mol)

Cu không tác dụng với dung dịch H2SO4 loãng

PTHH:                  Zn + H2SO4  ®  ZnSO4 + H2­

mol:    0,1          ¬                         0,1

mZn = 0,1.65 = 6,5 (g)                       mCu = 10,5 – 6,5 = 4 (g)

%Zn = % = 61,9%              %Cu = 100% – 61,9% = 38,1%

Thí dụ 2: Cho 3,15 gam hai kim loại vụn nguyên chất gỗm Al và Mg tác dụng hết với H2SO4 loãng thì thu được 3,36 lít một chất khí (đktc). Xác định thành phần % mỗi kim loại trong hỗn hợp.

                       Hướng dẫn giải

nH2 = 3,36 : 22,4 = 0,15 (mol)

Gọi x, y lần lượt là số mol của Mg và Al

24x + 27y = 3,15 (*)

PTHH:        Mg  +   2HCl    ®    MgCl2  +   H2­          (1)

mol:   x                  ®                         x

2Al   +  6HCl       ®   2AlCl3   +  3H2­                (2)

                   mol:   y                  ®                           1,5y

Theo (1), (2):   nH2 = x + 1,5y = 0,15 (**)

Giải (*), (**) ta được:          x = 0,075 ; y = 0,05

mMg = 0,075.24 = 1,8 (g)                      mZn = 0,05.27 = 1,35 (g)

%Mg = % = 57,14 %               %Al = 100% – 57,14% = 42,86 %

Dạng 5:  Dạng toán về CO2 tác dụng với kiềm.

    * CO2 (hoặc SO2) tác dụng với dung dịch NaOH (hoặc KOH)

      Phương pháp:

Các phương trình hóa học:

NaOH + CO2 ® NaHCO3                    (1)

2NaOH + CO2 ® Na2CO3 + H2O                   (2)

– Dựa vào dữ kiện đề bài tìm số mol của CO2 và số mol của NaOH.

– Lập tỉ số:   

– Từ tỉ số trên ta có một số trường hợp sau:

  • Nếu T £ 1 thì chỉ tạo NaHCO3, khí CO2 còn dư và ta tính toán dựa vào số mol NaOH chỉ theo phương trình (1), dấu “=” xảy ra khi phản ứng vừa đủ.
  • Nếu T ³ 2 thì chỉ tạo Na2CO3, NaOH còn dư và ta tính toán dựa vào số mol CO2 chỉ theo phương trình (2), dấu “=” xảy ra khi phản ứng vừa đủ.
  • Nếu 1 < T < 2 thì tạo NaHCO3 và Na2CO3 phản ứng xảy ra theo hai phương trình (1), (2). Với x, y lần lượt là số mol của 2 muối NaHCO3 và Na2CO3. Ta lập hệ Þ x, y.

Thí dụ 1: Cho 2,24 lít khí SO2 (đktc) tác dụng với 150 ml dung dịch NaOH 1,5 M. Tính khối lượng các chất sau phản ứng.

Hướng dẫn giải

nSO2 = 2,24 : 22,4 = 0,1 (mol)                   nNaOH = 0,15.1,5 = 0,225 (mol)

T =  = 2,25 > 2. Vậy sản phẩm chỉ tạo muối Na2CO3 và NaOH còn dư.

PTTH:        2NaOH + CO2 ® Na2CO3 + H2O

mol ban đầu:    0,225      0,1

mol phản ứng:   0,2  ¬   0,1  ®   0,1

mNa2CO3 = 0,1.106 = 10,6 (g)          ;         mNaOH dư = (0,225 – 0,2).40 = 1 (g)

Thí dụ 2: Cho 4, 84 gam CO2 đi qua dung dịch NaOH sinh ra 11,44 gam hỗn hợp 2 muối Na2CO3 và NaHCO3. Hãy xác định số gam mỗi muối trong hỗn hợp.

Hướng dẫn giải

nCO2 = 4,84 : 44 = 0,11 (mol)

Gọi x, y lần lượt là số mol của NaHCO3 và Na2CO3

84x + 106y = 11,44 (*)

PTHH:        NaOH + CO2 ® NaHCO3                           (1)

mol:                     x       ¬  x

2NaOH + CO2 ® Na2CO3 + H2O               (2)

mol:                     y       ¬  y

Theo (1), (2) ta có:                   nCO2 = x + y = 0,11 (**)

Giải (*), (**) ta được:      x = 0,01 ; y = 0,1

mNaHCO3 = 0,01.84 = 0,84 (g)

mNa2CO3 = 0,1.106 = 10,6 (g)

Để giúp học sinh lớp 9 có được kỹ năng giải được 1 số dạng toán định lượng như trên thì cả giáo viên và học sinh phải không ngừng nỗ lực thực hiện các giải pháp sau  mới đạt hiệu quả.

  Đối với Giáo viên

Phải rèn luyện kỹ năng phân tích đề cho học sinh để giúp  học sinh nhận dạng được bài toán. Giúp các em tìm ra đường đi cho bài toán đó. .

Nhiệt tình, chịu khó, kiên nhẫn trong quá trình nghiên cứu và thực hiện.

Tìm hiểu rõ những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế của vấn đề.

Nghiên cứu tìm những phương pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh.

Chỉnh sửa kịp thời những học sinh làm sai bài toán và đưa ra nguyên nhân mà học sinh đã làm sai để rút kinh nghiệm.

Phải cần chú ý và quan tâm đến những học sinh trung bình, yếu.

          Phải hệ thống hóa kiến thức trọng tâm cho học sinh một cách khoa học.

Nắm vững các phương pháp giải bài tập và xây dựng hệ thống bài tập phải thật sự đa dạng, nhưng vẫn đảm bảo trọng tâm của chương trình phù hợp với đối tượng học sinh.

Tận dụng mọi thời gian để có thể hướng dẫn giải được lượng bài tập là nhiều nhất, có hiệu quả nhất cho học và học sinh dễ hiểu nhất.

Luôn quan tâm và có biện pháp giúp đỡ các em học sinh có học lực trung bình, yếu. Không ngừng tạo tình huống có vấn đề đối với các em học sinh khá giỏi …

Đối với Học sinh

*Về kiến thức

Là phương tiện để ôn tập củng cố, hệ thống hoá kiến thức một cách tốt nhất.

Rèn khả năng vận dụng kiến thức đã học, kiến thức tiếp thu được qua bài giảng thành kiến thức của mình, kiến thức được nhớ lâu khi được vận dụng thường xuyên.

Đào sâu, mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn.

* Về kỹ năng

Phải tích cực rèn kỹ năng hệ thống hóa kiến thức sau mỗi bài, mỗi chương. Phân loại bài tập hóa học và lập hướng giải cho từng dạng toán.

Bài tập hoá học là một trong những cách hình thành kiến thức kỹ năng mới cho học sinh.

Rèn kỹ năng hoá học, khả năng tính toán một cách khoa học.

Phát triển năng lực nhận thức rèn trí thông minh.

 * Về thái độ

Có lòng  yêu thích, đam mê học môn Hóa học khi đã hiểu rõ vấn đề.

Phát hiện và giải quyết vấn đề một cách khách quan, trung thực trên cơ sở phân tích khoa học.

CHÚC CÁC THẦY CÔ VÀ CÁC EM HỌC SINH GIẠY TỐT HỌC TỐT

Người trình bày

GV : Phạm Thị Hòa