CẢM NHẬN TÁC PHẨM VĂN HỌC TỪ YẾU TỐ HÌNH THỨC

Tháng Mười 18, 2017 10:17 chiều

        Để xây dựng một khoa văn hoá học Việt Nam, nghiên cứu văn hoá Việt Nam, các nhà văn hoá học của chúng ta một mặt phải tìm về cội nguồn di sản văn hoá của cha ông, mặt khác tiếp thu có chọn lọc tinh hoa lí luận văn hoá, tri thức nước ngoài. Cùng với sự phát triển  của con người và xã hội, các lí thuyết văn hoá cũng không đứng im mà luôn phát triển bằng con đường kế thừa và thay thế nhau – người ta gọi là “sự đổng đảnh của phương pháp” – nghĩa là không có một phương pháp nào là tuyệt đối và việc  ứng dụng phương pháp nào là chủ đạo còn tuỳ thuọc vào trường hợp cụ thể, vẫn có thể dùng phương pháp khác làm bổ trợ.

        Nước Nga là một nước có nền văn học phát triển đã đạt được nhiều tành tựu rực rỡ. Không những thế, trong lí luận phê bình cũng đạt được những thành tựu đáng kể không chỉ có ý nghĩa trong nước Nga, mà còn đối với toàn thế giới. Nước Nga là nước rất gần gũi với dân tọc Việt Nam bởi thế nên nền văn học cũng như lí luận phê bình đối với chúng ta là cả một kho báu. Việc khai thác khám phá thnàh tựu văn học và lí luận phê bình Nga là một công việc cần thiết và bổ ích cho nền văn học nước nhà.

  1. Trường Phái lí luận phê bình dân chủ cách mạng Nga.

        1.1 Bêlinxki (1811-1848)

        – Ông xuất thân trong tầng lớp tri thức. Từ nhỏ đã rất thông minh, đọc nhiều sách. Lớn lên học đại học dược tiếp thu những tư tưởng lớn của thời đại, ông có thái dộ phản kháng quyết liệt đối với chế độ đương thời, đã từng bị đuổi  ra khỏi trường đại học. Ông tự kiếm sống bằng viết báo, làm văn…

        – Các công trình văn học được diễn đạt bằng văn phong trong sáng, sắc sảo, đầy trí tuệ: Những bài báo về Puskin, Gô gôn, Những mộng tưởng văn học, Nhìn lại văn học Nga(1846), Khái quát văn học Nga(1847), Bức thư gửi Gôgôn.

        Bêlinxki trở thành ngọn cờ đầu của LLVH tiến bộ và là người có công phát hiện ra những tài năng văn học lớn.

        * Nội dung cơ bản của LLPBVH Bêlinxki: Những quan điểm văn học

a. Mĩ Học:

        Khẳng định mối quan hệ thống nhất giữa văn học và đời sống hiện thực: ” Ở đâu có cuộc sống thì ở đó có thơ ca”. Ông khẳng định, bẳn chất của văn học là phản ánh hiện thực. Ông so sánh văn học với triết học và rút ra những điểm khác biệt trên điểm chung đó là đều phản ánh chân lí khách quan. Điểm khác:

        – KH và triết học: Dùng luận cứ, con số để chứng minh, tác động đến lí trí, trí tuệ là chủ yếu. Lôgic chặt chẽ, tiến đến chân lí duy nhất và chính xác.

        – Văn học: Bằng nghệ thuật ngôn từ để tái hiện nên các hình ảnh, hình tượng bằng trình bày miêu tả mang ý nghĩa thuyết phục và tác động chủ yếu đến tình cảm. Cũng vì vậy nên văn chương mang tính đa nghĩa. Từ đó ông rút ra những đặc chức năng văn học:

        + Nhận thức

        +  Giáo dục

        + Thẩm mĩ

b.Tính tư tưởng:

        Văn học phải có khuynh hướng (tính tư tưởng) tức là quan điểm đối với sự vật hiện tượng, con người, xã hội. Nhưng tính tư tưởng này không phải là những luận cứ giáo điều, quy tắc, mà đó là tình yêu nồng nàn, nhiệt huyết đầy sức sống của nhà văn.(Giống quan điểm của C.Mac: Đừng biến nhân vật văn học thành cái loa phát thanh cho tư tưởng của nhà văn)

c. Quan hệ giữa nội dung và hình thức:

         Phải có tính nhất quán giữa nội dung và hình thức, nếu tranh luận trong  sự lựa chọn thì nghiêng về nội dung vì ” chỉ có nội dung chứ không phải là ngôn ngữ văn phong (hình thức) mới cứu nhà văn ra khỏi sự quên lãng”. Như vậy ông không hạ thấp hình thức của tác phẩm, đây là một quan điểm tiến bộ.

        Ví dụ: Truyện Kiều, Chí Phèo người đọc nhớ dến tác giả ,tác  phẩm bởi tính hiện thực và tính nhân đạo của nó.

d. Tính nhân dân.

        – Là phẩm chất bậc nhất của văn học. “Nhà thơ nhân dân” là danh hiệu cao quý mà nghệ sĩ cần vươn tới.

        – Biểu hiện của tính nhân dân không đòi hỏi phải miêu tả trực tiếp đời sống nhân dân, mà tác phẩm phải nói được tâm tư nguyện vọng, đời sống tinh thần của nhân dân. Ví dụ Ep-ghê-nhi Ô-ghê-nhin của Puskin.

        Không chỉ là yêu cầu về nội dung mà về hình thức cần trong sáng, giản dị, dễ hiểu, nhưng không phải là viết một cách tầm thường.

e. Tính hiện thực:

        Tính hiện thực chứ không phải là chủ nghĩa hiện thực. Cội nguồn của cái đẹp văn chương là hiện thực. Nhà văn phải miêu tả chân thực đời sống, nghĩa là tính hiện thực không phải là sự bịa đặt, sự sao chép lại nguyên xi thực tế cuộc sống mà là sự lựa chọn, nhào nặn các sự việc hiện tượng đời sống theo lí tưởng của nhà văn dựa trên tưởng tượng và hư cấu được soi sáng bằng ý nghĩa khái quát. Vì vậy hình tượng nghệ thuật trở nên sinh động hơn so với thực tế.

        Bêlinxki giải quyết thấu đáo về mặt lí luận, nguyên tắc điển hình hoá của chủ nghĩa hình thức mà Hê-ghen đã đề cập đến. Theo Hê-ghen thì điển hình hoá chỉ gói gọn trong câu “con người này”

        Bêlinxki “Sự lựa chọn và phân tích tính điển hình hoá là sự lựa chọn những bức tranh, những hiện tượng đời sống mang tính tiêu biểu, tái tạo được những mặt điển hình như những người lạ mặt quen biết vừa mang tính cá biệt vừa mang tính khái quát, vừa riêng vừa chung”.

        Điển hình hoá là một trong những quy luật chủ yếu của sáng tạo nghệ thuật, không có nó thì không có văn chương nghệ thuật. Từ đó nhà văn phải biết làm nổi bật tính cách nhân vật với hoàn cảnh xã hội, với thời đại.

        Ông khẳng định: Đặc điểm của chư nghĩa hiện thực tk XIX mà ông gọi là chủ nghĩa tự nhiên là khuynh hướng phê phán bởi khuynh hướng phê phán là một phảm chất quan trọng của nghệ thuật chân chính.

        * Tóm lại: Bêlinxki đã tạo dựng được những cơ sở lí luận đúng đắn và bền vững cho nền văn học hiện thực tiến bộ Nga tk XIX. Những quan điểm này được kiểm nghiệm qua nhiều sáng tác của các nhà văn lớn.

1.2. Sep-nư-sep-xki

        Lãnh tụ phong trào dân chủ Nga, là nhà triết học duy vật, nhà mĩ học bổ sung thêm những quan điểm mĩ học dân chủ, người kế tục Bêlinxki giữ vững ngọn cờ văn học dân chủ tiến bộ.

        Quan điểm:

        – Mĩ học ” Cái đẹp chính là cuộc sống” chủ trương nền văn học phục vụ nhân sinh.

        – Văn học: HIện thực cuộc sống không chỉ là cội nguồn của cái đẹp, mà còn là cội nguồn của văn học. Phản ánh hiện thực là đực trưng của nền văn học. Nhưng phản ánh không có nghĩa là bắt chước, mô phỏng lại cuộc sống hiện thực mà nhằm tái tạo, cải tạo cuộc sống. Văn học phải giải thích và tái tạo cuộc sống.

        * Tóm lại: Trường phái LLPB VH Nga đã đề cao quan điểm thẩm mĩ xem cái đẹp là cội nguồn của cuộc sống.

        Văn học nghệ thuật là một hình thức tái tạo cuộc sống. Hiện thực cuộc sống là cội nguồn của cái đẹp, cũng là đối tượng của sáng tạo nghệ thuật, đòi hỏi nhà văn phải miêu tả chân thực cuộc sống.

        Xuất phát từ thực tiễn cuộc sống, văn học phải là cuốn bách khoa đời sống. Tuy nhiên không phải là toàn bộ cuộc sống đều được chấp nhận, nhà văn phải biết kiểm soát, phân tích lựa chọn, lí giải các hiện tượng của đời sống, tìm ra bản chất và quy luật của cuộc sống, hướng văn học đến chức năng: nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ, nhằm cải tạo xã hội.

        LLPB VH Nga đã tạo ra tiền đề cho CN hiện thực xuất hiện.

  1. Trường phái văn hoá lịch sử.
    a.Sự phát triển như vũ bão của KH XH dã đặt cho văn học những vấn đề mới nghiêm túc hơn. Để giải quyết nó cần có những quan điểm nghệ thuật mới: Trường phái văn hoá lịch sử ra đời trong hoàn cảnh này. Mặc dù không có tính thuần nhất cao nhưng nó đã thu hút nhiều các nhân vật lỗi lạc ở nhiều nước tham gia, tiêu biểu nhất là Ten (H. Taine)

        Ten là nhà triết học, sử học, nhà lí luận phê bình văn học Pháp có ảnh hưởng lớn trong tư tưởng học thuật thế giới.
        b.Dựa vào luận đề của CN thực chứng về nguyên tắc đồng nhất của các quy luật điều khiển cả thế giới tự nhiên lẫn thế giới tâm hồn con gnười. Ten chứng minh khả năng đặt thành công một công thức cái nguyên nhân đầu tiên phổ quát mà từ đó các yếu tố riêng lẻ, cả vật lí lẫn tâm lí được rút ra như một hậu quả. Bởi vậy, theo ông nhiệm vụ và mục đích của Kh nằm ở chỗ thiết lập được cái quy luật sinh thành khởi nguyên ấy.
c.Qua khảo sát kết quả KH thực nghiệm ông rút ra những kết luận biến việc nghiên cứu văn học thành một hiện tượng khách quan, dựa vào phương pháp nghiên cứu KHTN vào nghiên cứu văn học, không áp đặt quan điểm mĩ học chủ quan, không áp đặt bằng các quy tắc , tiêu chí mà chỉ ghi nhận lại các kết quả, các quy luật. Trường phái này xem sáng tạo nghệ thuật là một hiện tượng văn hoá giống như nghiên cứu lịch sử. “Văn học nghệ thuật là sự nhi lại những gì đã tồn tại một cách khách quan trong lịch sử xã hội . Từ đó hạ thấp chức năng giáo dục, thẩm mĩ của văn học.

        Nếu như rác phẩm văn học như một tài liệu thì các nhà văn hoá lịch sử nhìn thấy trong tài liệu thể hiện một trạng thái xã hội nào đó. Với ten, văn học chỉ là một “Bức ảnh chụp cá phong tục tập quán và một dấu hiệu của một trạng thái dân trí nhất định, cho phép người ta có thể phán xét xem con người của nhiều thế kỉ trước đấy đã cảm xúc và suy nghĩ như thế nào”. Họ xem nghệ thuật là cuốn sử biên niên chứa đựng nguồn tư liệu lịch  sử có giá trị nhận thức văn hoá lịch sử. “Lịch sử văn học là lịch sử đời sống sinh hoạt và tinh thần của con người trong phạm vi chật hẹp của một tác phẩm ngôn từ”

        Như vậy, tìm giá trị của văn học không phải trong bản thân nó mà ở cái đối tượng đã in dấu vào nó tức là cái đối tượng đã tồn tại độc lập với tác phẩm và chỉ được phản ánh vào trong tác phẩm.

        Tuy nhiên tác phẩm không phản ánh một ánh thụ động bởi tác giả của nó không đơn giản chỉ là người lập biên bản mà trong vai trò của một chứng nhân có tư tưởng và tình cảm của mình. Tác phẩm văn học là đài tưởng niệm của thời đại đó. Như vậy khi xây dựng lịch sử văn học thì trường phái VH LS chỉ có thể xây dựng được lịch sử tư tưởng xã hội hay lịch sử phong trào xã hội đứng sau lưng sự phát triển của văn học.

        Ten gọi những pho sách văn học là “bản chụp lại của một vỏ sò đào  được, là hình để lại trên đá của một sinh vật nào đấy đẫ sống và đã chết. Trong vỏ sò có một sinh vật sống, còn trong tài liệu có hình bóng  của một con người”. Nhưng cái vẻ bên ngoài (hữu hình) chứa dựng một cái gì bên trong tâm hồn con người, trong con người thứ nhất có con người thứ hai. Con người thân xác hữu hình là con đường vào nghiên cứu con người vô hình nội tâm. Ten cho rằng, động lực của văn học mọi thời đại chính là “sức mạnh nguyên khai”, được tạo thành bởi ba yếu tố: chủng tộc, môi trường và thời điểm lịch sử.

        * Chủng tộc:

         Những xu hướng bẩm sinh di truyền xuất hiện cùng với con người gắn liền với những đặc điểm về tính cách và đặc điểm của nó. Ví dụ: những ngươi dũng cảm thông minh mâu thuẩn với người nhút nhát, nông cạn; Một số người có khả năng sáng tạo những khái niệm, còn một số người có hkhả năng manh nha khái niệm và các hoạt động sáng tạo vv…

        Những đặc điểm trên in dấu trong tác phẩm văn học. Ví dụ: Người la tinh cởi mở, cổ điển, người Giecmanh tính toán, thực dụng.

        * Môi trường: Hoàn cảnh sống có tác động đến con người chủng tộc, từ đó tác động đến văn chương nghệ thuật.

        Ví dụn: Người Hi Lạp ở phương Nam gần biển, giữa những rừng cây nên trí tưởng tượng phong phú, già cảm xúc, ít thần bí ( pho thần thoại kì vĩ). Người Giéc manh lạnh lẽo mưa nhiều ở phương Bắc, họ không thiên về tư duy trừu tượng mà yêu lao động, tính thực tiễn, yêu đạo lí trong sạch trong đời sống tình cảm gia đình Vì vậy nên nền văn hoá tinh thần của họ thô giản, lành mạnh.

        * Thời điểm lịch sử: Văn học đánh dấu cá thời điểm lịch sử. Ở những thời điểm xuất hiện các trào lưu, các thể loại khác nhau. Giữa cá nghệ sĩ cũng có sự khác biệt, vì họ sinh ra trong những thời điểm lịch sử khác nhau.Qua khoảng giữa cá nghệ sĩ, nghệ thuất phát triển hoàn thiện hơn.

        Họ kết luận, mọi tác phẩm đều chịu ảnh hưởng của ban yếu tố này, bởi vậy cá nhà phê bình văn học muón tim fhiểu về một nhà văn, một tác phẩm cần nghiên cứu ba động lực trên. Chúng ta không nên hiểu sự ảnh hưởng của ba yếu tố trên một cách thô sơ, mà nên hiểu ở nghĩa rộng thì lí thuyết của Ten khá đúng đắn.

        Trường phái này đề cao ý nghĩa lịch sử của văn học. Họ trách Bêlinxki đánh mất ý nghĩa đó, biến văn học thành đầy tớ cuả mĩ học. Trường phái này cũng là một hướng nghiên cứu văn học quan trọng, có một vị trí trong lịch sử văn học Nga.

                                                                                                                Người thực hiện: Hoàng Toản