CHI BỘ THCS KỶ NIỆM 90 NĂM NGÀY THÀNG LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Tháng Hai 28, 2020 10:01 chiều

Trong khí tưng bừng của cả nước chào đón xuân mới Canh Tý (2020), Chi bộ Trường THCS Quảng Tiến long trọng tổ chức buổi tọa đàm Kỉ niệm 90 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Phát biểu khai mạc tại buổi tọa đàm trọng thể kỉ niệm 90 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng chí Nguyễn Thanh Sơn, Bí thư Chi bộ nhấn mạnh thực tiễn phong phú, sinh động của cách mạng Việt Nam trong 90 năm qua đã chứng tỏ, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, lập nên nhiều kỳ tích trên đất nước Việt Nam.

Chiều 3/2/2020, tại Phòng Hội đồng Trường THCS Quảng Tiến, Chi bộ Trường THCS Quảng Tiến đã long trọng tổ chức tọa đàm Kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930-3/2/2020).

83854676_3207417435953828_6352146885779652608_n

Tham dự buổi lễ còn có các các đồng chí thành viên trong Cấp ủy cùng đông đủ các đồng chí đảng viên trong Chi bộ.

Tại buổi tọa đàm, đồng chí Hoàng Văn Toản, cấp Ủy viên Chi bộ THCS, đã ôn lại những mốc son lịch sử hào hùng của Đảng ta, ghi nhớ những công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị anh hùng cách mạng, điểm lại những thành tựu của đất nước sau 35 năm đổi mới đồng thời ôn lại lịch sử thành lập, phát triển và những thành tựu gắn liền với thành tựu đất nước của đảng bộ Quảng Bình và huyện Quảng Trạch.

84508743_500701107536933_8261376646192300032_n

Đ/c Hoàng Văn Toản, cấp Ủy viên Chi bộ THCS,  ôn lại những mốc son lịch sử hào hùng của Đảng 

Qua buổi lễ, đảng viên đã ý thức sâu sắc ý nghĩa lớn lao và vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng kể từ khi ra đời cho đến nay.

Kỉ niệm ngày thành lập Đảng, chúng ta lại nhớ những vần thơ của nhà thơ Tố Hữu. Ông đã từng khái quát những mốc son lịch sử dân tộc vào biết bao vần thơ dạt dào cảm hứng cách mạng của mình. Trong bài “Ba mươi năm đời ta có Đảng”, ông viết:

“Mùa xuân đó, con chim én mới

Rộn đồng chiêm, chấp chới trời xanh

Đời ta gương vỡ lại lành

Cây khô cây lại đâm cành nở hoa”.

Đó là mùa xuân năm 1930, mùa xuân đầu tiên đã đem lại luồng sinh khí và sức sống cho vạn vật trên đất nước này kể từ ngày 3/2. Ngày 3/2/1930, Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản họp ở bán đảo Cửu Long, thuộc Hồng Kông (Trung Quốc), dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đã quyết định thống nhất các tổ chức cộng sản ở nước ta thành một Đảng duy nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là một bước ngoặt lịch sử trọng đại, chấm dứt cuộc khủng hoảng kéo dài về tổ chức và đường lối của cách mạng Việt Nam.

Việc Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là thành quả của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước; chứng tỏ giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành và đủ sức gánh vác sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng.

Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng đã xác định con đường cơ bản của cách mạng Việt Nam, đáp ứng yêu cầu cấp thiết của dân tộc và nguyện vọng tha thiết của nhân dân.

Sau khi ra đời, gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân đồng tình ủng hộ và tin tưởng tuyệt đối, chỉ trong vòng 15 năm, Đảng ta đã lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, tiến hành ba cao trào cách mạng: Cao trào cách mạng 1930 – 1931, với đỉnh cao là phong trào Xô Viết – Nghệ Tĩnh, Cao trào cách mạng đòi dân sinh, dân chủ (1936 – 1939) và Cao trào cách mạng giải phóng dân tộc (1939 – 1945), để đến năm 1945, khi thời cơ cách mạng chín muồi, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo toàn thể dân tộc Việt Nam làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 “long trời, lở đất”, thành lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vào ngày 2/9/1945 (năm nay chúng ta kỷ niệm tròn 75 năm).

Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, cách mạng đã phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách, cùng một lúc phải đương đầu với “giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm”. Trong hoàn cảnh hiểm nghèo đó, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta vượt qua tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, kiên cường bảo vệ và xây dựng chính quyền non trẻ, đồng thời tích cực chuẩn bị mọi mặt để bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Trên cơ sở đường lối kháng chiến “toàn dân”, “toàn diện”, “trường kỳ”, “dựa vào sức mình là chính”, phát huy truyền thống đoàn kết, yêu nước của toàn dân tộc, Đảng đã lãnh đạo nhân dân lần lượt đánh bại mọi âm mưu, kế hoạch xâm lược của kẻ thù, đặc biệt là thắng lợi trong Chiến cuộc Đông Xuân 1953 – 1954 với đỉnh cao là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ (năm 1954), chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Từ năm 1954 đến năm 1975, đất nước bị chia cắt làm hai miền. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, miền Bắc vừa nỗ lực xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa dốc sức làm tròn nghĩa vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn. Nhân dân miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh kiên cường để giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Với tinh thần “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, “không có gì quý hơn độc lập, tự do”; trên cơ sở đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng, với sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, quân và dân ta đã lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của kẻ thù, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc vào ngày 30/4/1975. Thắng lợi đó “mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc” (năm nay chúng ta kỷ niệm tròn 45 năm).

Sau gần 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, từ một đất nước nghèo nàn, có cơ sở vật chất – kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội lạc hậu, trình độ thấp, đến nay, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; văn hoá, xã hội tiếp tục phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện; công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị có bước đột phá; khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng – an ninh, độc lập, chủ quyền được giữ vững; vị thế và uy tín của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Đến nay, Việt Nam đã trở thành một quốc gia có quy mô dân số gần 100 triệu người với mức thu nhập bình quân 2.800 USD/người; đã tham gia hầu hết các tổ chức quốc tế, trở thành một thành viên tích cực, có trách nhiệm trong các hoạt động của cộng đồng quốc tế. Mới đây, được Đại hội đồng Liên hợp quốc bầu với số phiếu tín nhiệm rất cao, lần thứ hai trở thành Uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Với những thành tựu to lớn đã đạt được, chúng ta có cơ sở để khẳng định rằng, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay.

Thực tiễn phong phú, sinh động của cách mạng Việt Nam trong 90 năm qua đã chứng tỏ, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, lập nên nhiều kỳ tích trên đất nước Việt Nam.

Thông qua quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta được tôi luyện và ngày càng trưởng thành, xứng đáng với vai trò và sứ mệnh lãnh đạo cách mạng và sự tin cậy, kỳ vọng của nhân dân.

Thực tiễn đó khẳng định một chân lý: Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Chúng ta mãi mãi ghi nhớ công ơn to lớn của các vị lãnh đạo tiền bối, của hàng triệu anh hùng, liệt sĩ, những người con ưu tú của dân tộc đã anh dũng hy sinh vì độc lập, tự do, vì chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội và vì nghĩa vụ quốc tế cao cả. Chúng ta bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với các bậc lão thành cách mạng, các gia đình liệt sĩ, các Mẹ Việt Nam anh hùng, các đồng chí thương binh, bệnh binh, các gia đình có công với nước, cùng toàn thể đồng bào và chiến sĩ cả nước đã anh dũng chiến đấu, hy sinh, lao động sáng tạo, đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc ta.

Nhìn lại chặng đường 90 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Đảng Cộng sản Việt Nam và trong thời khắc thiêng liêng này, chúng ta bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với công lao trời biển của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Lãnh tụ thiên tài của Đảng ta và dân tộc ta, Người thày vĩ đại của cách mạng Việt Nam – Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới. Người đã cống hiến trọn đời mình cho dân, cho nước, dẫn dắt Đảng ta, nhân dân ta làm nên những thắng lợi vẻ vang và làm “rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”. Đất nước càng phát triển, nhân dân ta ngày càng ấm no, hạnh phúc, càng chứng tỏ, tư tưởng, sự nghiệp, đạo đức và phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tài sản vô giá, là ngọn đuốc soi đường cho dân tộc ta vững bước đi tới tương lai.

Chúng ta mãi mãi ghi nhớ và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc sự ủng hộ và giúp đỡ quý báu của nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa anh em, các lực lượng tiến bộ cùng bầu bạn khắp năm châu đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.

Buổi tọa đàm cũng đã ôn lại những thành tựu nổi bật của Đảng bộ Quảng Bình và huyện Quảng Tạch 90 năm dưới ngọn cờ của Đảng.

Dười ngọn cờ của Đảng, “Từ ấy “ (từ khi có Đảng), nhân dân Quảng Bình được “bừng nắng hạ” (Tố Hữu) khi được ánh sáng của Đảng soi đường. Từ những ngày đầu dưới ngọn cờ của Đảng, ở Quảng Bình và huyện Quảng Trạch đã có nhiều tổ chức Đảng thành lập: Chi bộ Lũ Phong – Quảng Phong (1933), Chi bộ Thổ Ngọa – Quảng Thuận (1937), Chi bộ Lộc Điền – Quảng Thanh (1937), Chi bộ Trung Thôn – Quảng Trung (1939), Chi bộ Thanh Thủy – Tiến Hóa (1939), Chi bộ Thạch Bàn – An Xá (1939). Năm 1939, thành lập Ban vận động Phủ ủy lâm thời Quảng Trạch. Tháng 6 năm 1942, Ban chấp hành phủ ủy Quảng Trạch được thành lập. Các tổ chức đảng đã kịp thời truyền bá chủ nghĩa Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội đáp ứng nhu cầu khách quan và thực tiễn cách mạng tại địa phương.

84495250_587027492138633_3936752343315382272_n

Đ/c Nguyễn Thị Giang phó BT chi bộ : Phát biểu tại buổi lễ

Trải qua 90 năm dưới ngọn cờ của Đảng, Đảng bộ và nhân dân Quảng Bình nói chung và nhân dân Quảng Trạch nói  riêng đã luôn sát cánh cùng đất nước vượt qua bao chông gai lịch sử, giành nhiều thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống xâm lược và trong công cuộc xây dựng đất nước vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, Huyện ủy, nhân dân Quảng Bình và huyện Quảng Trạch đã góp phần đánh thắng giặc Pháp xâm lược 9 năm (1946-1954) buộc thực dân Pháp phải kí vào Hiệp định Giơ-ne-vơ công nhận hòa bình ở miền Bắc Việt Nam. Trong kháng chiến chống Mĩ, Quảng Bình hoàn thành nhiệm vụ là tuyến đầu của đất nước chi viện cho tiền tuyến Miền Nam và là tuyến đầu của miền Bắc làm nhiệm vụ hậu phương, xây dựng chủ nghĩa xã hội góp phần thắng lợi đồng thời hai nhiệm vụ cách mạng ở cả hai miền.

Trong công cuộc xây dựng đất nước thời bình, nhân Quảng Bình dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy đã gặt hái nhiều thành tựu to lớn, góp phần vào thắng lợi của đất nước trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa tiến lên chủ nghĩa xã hội. Quảng Bình sau 30 năm tái lập tỉnh (1989 – 2019), kinh tế tăng trưởng khá, quy mô nền kinh tế không ngừng được nâng lên cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa : hoạt động đầu tư được đẩy mạnh; lĩnh vực văn hóa – xã hội giành được nhiều kết quả tốt đẹp; quốc phòng an ninh được tăng cường; khối đại đoàn kết toàn dân được tăng cường, đồng thuận xã hội ngày càng cao; công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã và đang đạt được nhiều kết quả tích cực.

Những thành tựu đã đạt được qua 30 năm tái lập tỉnh và thực hiện đường lối đổi mới đã chứng minh khả năng lãnh đạo và bàn lĩnh chính trị vững vàng của Đảng bộ tỉnh, đồng thời tạo đà, tạo thế cho bước phát triển những năm tiếp theo để bứt phá đi lên, đạt được những thành tựu đáng tự hào trên các lĩnh vực.

Trong bối cảnh chung của đất nước vào những năm đầu của thập kỉ XX, trên mảnh đất Quảng Trạch, trước những yêu cầu khách quan của tình hình, để lãnh đạo phong trào cách mạng của nhân dân, các tổ chức Đảng lần lượt ra đời. Chi bộ Lũ Phong – Quảng Phong (10/1933) là một trong ba chi bộ đầu tiên của huyện Bắc Quảng Bình, là nhân tố để hình thành Đảng bộ Quảng Trạch sau này. Tháng 6/1942 Phủ ủy Quảng Trạch được thành lập đáp ứng kịp thời đòi hỏi của phong trào cách mạng trong thời kì mới.

Trong thực tiễn cách mạng sinh động, các tổ chức Đảng ở Quảng Trạch đã hết sức nhạy bén vận dụng sáng tạo đường lối của Đảng vào hoàn cảnh cụ thể của địa phương để đê ra nhiệm vụ sát với tình hình thực tế và giành được được nhiều thắng lợi quan trọng trong hai cuộc kháng chiến công Pháp và chống Mĩ.

Bước vào thười kì mới của đất nước xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng bộ huyện Quảng Trạch tăng cường lãnh đạo nhân dân hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục phát triển inh tế – xã hội, xâ dựng cơ sở vật chất, kĩ thuật cho CNXH, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng. Dưới sự lãnh đạo của BCH Đảng bộ, cán bộ đảng viên và các tầng lớp nhân dân đã phát huy truyên thống của quê hương, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới và thu được những kết quả đáng tự hào.

Kỉ niệm 90 năm ngày thành lập Đảng, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vô cùng tự hào vì đất nước có một Đảng Cộng sản kiên cường, trung thành với Chủ nghĩa Mác- Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lãnh đạo nhân dân đi từ thắng lợi này đến thăng lợi khác, làm nên những kì tích vĩ đại trong lịch sử dân tộc, đóng góp xưng đáng vào phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, vì hòa bình và tiến bộ của nhân loại.

       Thực hiện: thầy giáo Hoàng Toản